.
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nhà đầu tư huyền thoại. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nhà đầu tư huyền thoại. Hiển thị tất cả bài đăng

30 thg 6, 2020

177 Tỷ phú đều có 13 thói quen giống nhau. Đó là ...

0 đánh giá
Thêm chú thích

Sau 5 năm nghiên cứu những thói quen thường nhật của 177 triệu phú, tỷ phú tự lực cánh sinh, tay trắng dựng cơ đồ, tác gia người Mỹ Thomas C.Corley kết luận: "Một trong những nguyên nhân khiến họ từ những người bình thường chuyển biến thành những người thành công có tài sản triệu đô, tỷ đô chính là các ‘thói quen giàu có"... Thói quen quyết định giàu có, nghèo khó, hạnh phúc, đau buồn, áp lực, quan hệ tốt xấu, có sức khỏe hay không..."
Quan trọng nhất, tất cả những thói quen đều có thể thay đổi và bồi dưỡng được. Dưới đây là 13 ‘thói quen giàu có’ của các triệu phú, tỷ phú mà bạn có thể bắt đầu bồi dưỡng ngay từ hôm nay

1. Kiên trì dậy sớm

Trong nghiên cứu của Corley, trên nửa số triệu phú, tỷ phú tự lực cánh sinh, tay trắng dựng cơ đồ đều dậy sớm trước giờ làm việc ít nhất 3 giờ đồng hồ. Sáng dậy lúc 5 giờ, hoàn thành 3 việc quan trọng nhất của công việc trong ngày, việc này khiến bạn kiểm soát được cuộc sống, giúp bạn có nhiều thời gian chuẩn bị cho công việc, và có đủ thời gian đối phó với việc bất ngờ xảy ra.
Khi có sự chuẩn bị tốt trước mọi sự việc thì sẽ không bị động, sẽ lựa chọn được phương án thích hợp, tối ưu. Kiên trì dậy sớm cũng thể hiện một ý chí kiên cường và một tâm thái cẩn thận, chuẩn bị cho kế hoạch trong ngày.

2. Mỗi ngày dành 15 – 30 phút suy nghĩ

"Suy nghĩ là mấu chốt của thành công của họ" – Corley phát hiện ra điểm này. Người giàu thường ngồi một mình lúc sáng sớm suy nghĩ ít nhất 15 phút.
Buổi sáng hàng ngày họ thường suy nghĩ rất nhiều sự việc, bao gồm sự nghiệp, tài chính, sức khỏe và từ thiện.
Họ thường xuyên tự hỏi bản thân 4 câu:
- Mình làm thế nào mới có thể kiếm được nhiều tiền hơn?
- Công việc của mình có khiến mình vui thích không?
- Thời gian rèn luyện của mình có đủ không?
- Mình còn có thể tham gia được các hoạt động từ thiện nào nữa?"
Trong đó 2 câu hỏi quan trọng nhất khiến họ càng thành công hơn, đó là "Công việc có khiến mình vui thích không? - kiểm điểm lại các công việc mình đang làm có làm lợi ích cho xã hội, cho người khác không, có trái đạo đức không. Vì chỉ đem lại lợi ích cho người khác, cho xã hội, không trái đạo đức lương tâm thì mới là công việc đem lại cho mình niềm vui đích thực.
Câu "Mình còn có thể tham gia được các hoạt động từ thiện nào nữa?". chính là chìa khóa để giàu có không những bền lâu mà còn giàu có hơn, vì họ hiểu được cội nguồn của của cải đến từ Đức, nên vui lòng hành thiện tích đức, chứ không dùng của cải để thỏa mãn vui thú cá nhân.

3. Thường xuyên đọc sách

Người giàu càng thích đọc, học tập chứ không thích vui chơi giải trí. Corley viết: "88% người giàu hàng ngày đều đọc sách tối thiểu 30 phút, nội dung chủ yếu là sách tự học và tự tu dưỡng nâng cao bản thân. Đại đa số đều không phải đọc sách để giải trí. Người giàu đọc sách là để thu hoạch tri thức".

4. Nói năng cử chỉ lễ phép

Những triệu phú, tỷ phú khởi nghiệp từ hai bàn tay đều nắm vững những nguyên tắc lễ nghi xã hội. Lễ nghi này bao gồm gửi thư cảm ơn, ghi nhớ những ngày quan trọng (như kỷ niệm ngày cưới, sinh nhật), nắm vững lễ nghi trên bàn ăn và cách ăn mặc chính xác ở các trường hợp khác nhau.
Hiểu lễ nghi thì mới biết hành xử đúng người, đúng lúc, đúng chỗ, đúng trường hợp. Người không hiểu biết lễ nghi thì như kẻ hoang sơ, vô phép tắc. Nếu bạn muốn thành công thì cũng phải nắm vững những nguyên tắc này.

5. Theo đuổi mục tiêu của riêng mình

"Theo đuổi ước mơ và mục tiêu của riêng mình có thể khiến bạn có cảm giác hạnh phúc lâu dài, cuối cùng sẽ chuyển hóa thành của cải" – Corley nói.
Có rất nhiều người phạm phải sai lầm là theo đuổi ước mơ của người khác (ví dụ như của cha mẹ, áp đặt của xã hội). Người giàu thì không ngừng hoàn thiện mục tiêu của riêng mình, kiên nhẫn và hăng say theo đuổi ước mơ và mục tiêu đó.
Việc xác định được cho mình ước mơ, mục tiêu rõ ràng giúp chúng ta có sức mạnh đi theo một hướng, không bị phân tán tâm trí, sức lực ở vạn sự vạn vật xung quanh.

6. Kiên trì rèn luyện sức khỏe

76% người giàu kiên trì mỗi ngày vận động ngoài trời 30 phút trở lên. Vận động ngoài trời bao gồm chạy bộ, chạy ngắn, chạy nhanh, đạp xe…
Vận động ngoài trời không chỉ tốt cho sức khỏe mà còn giúp ích lớn cho não.Giúp tăng tế bào não. Rèn luyện thể dục còn có thể tăng hàm lượng glucose trong cơ thể, glucose là nhiên liệu cho đại não. Dưỡng chất mà đại não nhận được càng nhiều thì não phát triển càng tốt, và bạn cũng trở nên thông minh hơn", Corley phân tích.

7. Có nhiều nguồn thu nhập

"Những triệu phú, tỷ phú tay không dựng cơ đồ thường không dựa vào một nguồn thu nhập, họ có nhiều phương thức thu nhập khác nhau. Trong nghiên cứu của tôi, 65% người trong số họ trước khi trở thành triệu phú thì đã có ít nhất 3 nguồn thu nhập".
Các thu nhập thêm bao gồm cho thuê nhà đất, đầu tư cổ phiếu, nghề phụ, bản quyền v.v.
Thực tế, với người khởi nghiệp từ tay trắng thì chỉ một chút tài sản cũng là cả cơ nghiệp, mỗi chuyện làm ăn, đầu tư là cả một canh bạc dốc hết vốn. Dù tính toán giỏi cỡ nào thì vẫn còn yếu tố bất định "mưu sự tại nhân, thành sự tại Thiên". Thế nên, họ sẽ nghĩ mọi cách để có thêm các nguồn thu nhập khác, ngộ nhỡ thua lỗ hết sạch gia tài thì vẫn có thể sống được, không đến mức tuyệt vọng nghĩ quẩn. Tuyệt đối, đừng bao giờ chỉ dựa vào một nguồn thu nhập duy nhất. Muốn thành công, phải nghĩ ra các phương thức kiếm tiền khác nhau để gia tăng quỹ tài sản.

8. Kết giao với những người thành công khác

Có câu: "Gần mực thì đen, gần đèn thì rạng". Những người chính nhân quân tử, đàng hoàng tử tế toát ra một sức mạnh tinh thần, một năng lượng tích cực mạnh mẽ khiến những người xung quanh cũng tự sản sinh suy nghĩ tích cực, lạc quan, hăng hái tiến thủ.
Kết giao với những người có mục tiêu rõ ràng, tâm thái tích cực, lạc quan nhiệt tình... chắc chắn sẽ giúp ích cho cuộc đời bạn. Và đó cũng chính là "khẩu vị" kết bạn yêu thích của người giàu.

9. Có thầy riêng

"Tìm được bậc đạo sư riêng cho mình có thể giúp bạn nhanh chóng tích tụ của cải" – Corley viết.
Bậc đạo sư thành công không chỉ có ảnh hưởng tích cực đến cuộc sống của bạn. Bằng việc chỉ dẫn bạn nên làm gì, không nên làm gì, họ chia sẻ với bạn kinh nghiệm thành công có giá trị, những kinh nghiệm từ bài học thành công hay thất bại của chính họ hoặc các bậc thầy của họ. Có người thầy tốt, con đường đi tới thành công của bạn bớt nguy hiểm, vòng vèo hoặc sai lầm.

10. Không phải người xuất chúng

Người thành công không phải người xuất chúng, nhưng họ biết tạo ra vòng ảnh hưởng của họ và kéo những người khác vào.
Có một so sánh thú vị thế này: Người quá xuất chúng, hiển lộ thì có lẽ khó thành công, giống như cái cây cao trong khu rừng thì bị gió bẻ gãy. Người thành công là người bình thường, nhưng tạo ra được bản sắc, sức cuốn hút riêng. Mà sức cuốn hút lớn nhất đối với mọi người chính là nhân cách, lòng bao dung, nhân ái, biết nghĩ cho người khác.

11. Thái độ nhân sinh tích cực

Có lẽ hầu hết mọi người đều biết suy nghĩ tích cực quyết định đến thành công, thay đổi cuộc đời nhưng không phải ai cũng thực hành nó một cách nhất quán, đúng đắn và trọn vẹn. Trong tướng mệnh học có nói: "Tướng do tâm sinh, cảnh tùy tâm chuyển", nghĩa là "tướng mạo, thần thái, tinh thần con người đều do tâm thái sinh ra, tâm thiện, tích cực thì tướng mạo, thần thái tốt đẹp. Hoàn cảnh xung quanh cũng thay đổi theo tâm thái, tâm thái tốt đẹp, thiện lương, tích cực thì hoàn cảnh, môi trường xung quanh cũng theo đó mà biến đổi.
Chỉ khi có thái độ tinh thần tích cực thì bạn mới có thể đạt được thành công lâu bền.

12. Giúp người khác đạt được thành công

"Giúp người khác theo đuổi mục tiêu và ước mơ, đồng thời đạt được thành công, đó cũng khiến bản thân bạn thu được ích lợi. Nếu không có những người thành công khác thì thành công cũng rất khó định nghĩa. Nếu muốn thành công thì cách tốt nhất là giúp người khác thành công".
Nhưng bạn không nên giúp đỡ tất cả mọi người mà chỉ nên giúp những người lạc quan, có mục tiêu rõ ràng, tích cực, theo đuổi ước mơ, tránh mất thời gian vô ích cho những người thiếu ý chí, thiếu nghị lực.

13. Tìm cầu các ý kiến phản ánh

Ý kiến phản ánh là danh từ hiện đại, thời xưa gọi là can gián. Hiếu Kinh có viết:
"Xưa bậc thiên tử có 7 người bề tôi can gián, tuy thiên tử vô đạo, cũng không bị mất thiên hạ".
"Bậc chư hầu có 5 người bề tôi can gián, tuy chư hầu vô đạo, cũng không bị mất nước".
"Bậc đại phu có 3 người bề tôi can gián, tuy đại phu vô đạo cũng không bị mất gia tộc".
"Kẻ sỹ có bạn bè can gián, thì không bị mất thanh danh".
"Bậc làm cha có con can gián, thì không rơi vào bất nghĩa".
Là chủ doanh nghiệp thì trong doanh nghiệp họ là vua, cần có bề tôi (cấp dưới) can gián. Với đối tác, với khách hàng thì họ là kẻ sỹ, cần có bạn bè can gián. Trong gia đình thì họ là người cha, cần vợ con can gián.

Theo tri thức trẻ

16 thg 2, 2020

Jim Derrick Slater – Người thầy của “nhà đầu tư nhỏ” chia sẻ các bước chinh phục thị trường

0 đánh giá
Jim Derrick Slater – Người thầy của “nhà đầu tư nhỏ”

Biến cố trên thị trường dạy ta biết quản lý rủi ro tốt hơn, lựa chọn doanh nghiệp một cách bài bản hơn. Đó là những bài học sinh động mà không một trường đại học hay sách vở nào dạy được…

2 thg 9, 2019

Edward Thorp –Từ thiên tài toán học trở thành tỉ phú đầu tư nổi tiếng khiến cả phố Wall lẫn các sòng bạc bậc nhất nước Mỹ phải “kính nể”

0 đánh giá

Trong lịch sử chỉ có một người duy nhất khiến cả phố Wall lẫn các sòng bạc bậc nhất thế giới kính nể, người đó không ai khác chính là thiên tài toán học Edward Oakley Thorp…

Edward Oakley Thorp (sinh ngày 14 tháng 8 năm 1932) là một giáo sư toán học người Mỹ, đồng thời ông cũng là một tác giả nổi tiếng chuyên viết sách toán học, kinh tế, đầu tư kiêm nhà quản lý quỹ phòng hộ. Bên cạnh đó, ông cũng là một trong những thiên tài toán học dành thời gian tâm huyết nghiên cứu và tìm ra cách đánh bại các nhà cái trong trò blackjack bằng cách vận dụng lý thuyết xác suất thống kê. Ông tiên phong trong các ứng dụng hiện đại của lý thuyết xác suất, bao gồm cả việc khai thác các mối tương quan rất nhỏ để đạt được lợi ích tài chính đáng kinh ngạc.
Ngay từ thuở nhỏ, Thorp đã nổi tiếng trong giới bạn bè vì khả năng học nhanh và chăm chỉ đọc sách. Bằng sự nỗ lực trên con đường học hành, không khó để ông lấy được bằng Tiến sĩ tại Đại học California vào năm 1958.
Sau khi tốt nghiệp, ông được mời làm giáo sư dạy Toán tại Học viện công nghệ Massachuset (MIT). Trong thời gian rảnh rỗi, ông thường rủ bạn bè đến các sòng bạc lớn tại Las Vegas để thư giãn và kiếm thêm. Đây cũng chính là xuất phát điểm khởi đầu cho một huyền thoại đầu cơ có một không hai trên thị trường tài chính sau này.
Là một thiên tài toán học, ông đã tìm ra cách đánh bại các nhà cái trong trò blackjack bằng cách vận dụng lý thuyết xác suất thống kê. Sau khi xuất bản cuốn sách đầu tay năm 1962 về cách đếm bài và chiến thắng nhà cái, ông trở nên nổi tiếng đến nỗi một số casino đã cấm ông vào chơi. Nhiều sòng bạc cũng đã phải thay đổi luật chơi để những người sử dụng hệ thống đếm bài của ông không thể chiến thắng và lấy hết tiền của họ.
Tài năng của Thorp tiếp tục được tỏa sáng khi ông bước chân vào thị trường chứng khoán . Vẫn chưa thỏa mãn với thành công tột đỉnh trên sòng bạc, Edward Thorp tiếp tục tham gia vào thị trường chứng khoán.
Có vẻ như chỉ có đỉnh cao của thị trường tài chính mới có thể giúp ông thể hiện hết sự thông minh vượt trội của mình. Tại chính phố Wall, ông đã kiếm được hàng trăm triệu USD. Ra đời năm 1969, quỹ Princeton Newport Partners của Thorp được coi là quỹ đầu cơ định lượng (tức sử dụng thuật toán để tự động giao dịch) đầu tiên của thế giới.
20 năm trôi qua đi mà không có quý nào quỹ của ông thua lỗ, từ số tiền 1,4 triệu USD ban đầu giờ đã lên tới 275 triệu USD, đạt mức lợi suất cao hơn gấp đôi so với tốc độ tăng trưởng của chỉ số S&P 500. Có thể nói những kỹ năng siêu việt về toán học, định giá quyền chọn và những chiếc máy tính đã đem đến cho ông lợi thế khổng lồ so với các nhà đầu tư khác
.Những gì mà Thorp đã làm được mang đến cho ông danh hiệu "người đỡ đầu" của nhiều trong số những nhà đầu tư vĩ đại nhất thế giới. Warren Buffett, bạn chơi bài bridge thân thiết của Thorp, khuyên các nhà đầu tư trong quỹ đầu cơ đầu tiên của ông hãy chuyển sang quỹ của Thorp.
[Quy tắc đầu tư vàng] Edward Thorp –Từ thiên tài toán học trở thành tỉ phú đầu tư nổi tiếng khiến cả phố Wall lẫn các sòng bạc bậc nhất nước Mỹ phải “kính nể” - Ảnh 1.
Một trong những cuốn sách yêu thích của Bill Gross, nhà sáng lập PIMCO và xây dựng nó thành quỹ trái phiếu lớn nhất thế giới, là cuốn "Đánh bại thị trường" mà Thorp viết năm 1967. Ken Griffin, nhà quản lý quỹ đang được trả lương cao nhất thế giới hiện nay, cũng cho biết quỹ Citadel của ông chịu nhiều ảnh hưởng từ những tài liệu mà Thorp chia sẻ.
Trong ngần ấy năm điều hành quỹ đầu tư, ông đã liên tục nghiên cứu mới và sử dụng các thuật toán để phân tích các thị trường giao dịch, trong đó nhiều phần được làm tự động. Quỹ của ông chuyên sử dụng các mô hình toán học để dự báo giá cổ phiếu trên các thị trường khắp thế giới.
Không chỉ nổi tiếng trong giới toán học và đầu tư, ông còn nổi danh là một người chồng, người bố mẫu mực luôn hướng mình về gia đình sau ngày dài lao động vất vả. Sau này, khi đang ở trên đỉnh của thành công, Thorp đã quyết định gác thời gian cùng vợ đi du lịch vòng quanh thế giới và vui đùa cùng con cháu. Những đứa cháu của ông hiện nay cũng đều đang học ở MIT.
Trong một cuốn sách mà ông đã phải mất khá nhiều thời gian để hoàn thành do người vợ đã quá cố Vivian phải chống chọi với bệnh ung thư, ông đã miêu tả "Cuộc đời chính là 1 chuyến phiêu lưu mà trong đó bạn cần phải cân bằng được công việc với cuộc sống gia đình. Đừng để mọi thứ trở nên quá muộn".
Gần đây nhất trong một bài phỏng vấn với Forbes, mặc dù không tiết lộ quá nhiều về hệ thống riêng của ông nhưng Thorp cũng đã mở rộng lòng chia sẻ một số kinh nghiệm đầu tư cho những nhà đầu tư mới:
Nguyên tắc 1: Hết sức khiêm tốn và luôn tự biết điểm dừng trong đầu tư
Edward Thorp mặc dù là một nhà thiên tài toán học, đồng thời là bạn thân lâu năm với Warren Buffett nhưng có vẻ Edward Thorp không đồng ý với người bạn của mình trong vấn đề tiếp cận thị trường chứng khoán. Edward Thorp luôn coi thị trường chứng khoán giống như sòng bạc và cách đầu tư của ông cũng ít nhiều mang phong cách như hồi ông ở Las Vegas. Theo quan điểm của ông "Bất cứ trường phái nào kiếm ra lợi nhuận cũng đều đáng để học hỏi".
Tuy nhiên, Edward Thorp cũng thừa nhận: "Điều quý giá mà tôi học được từ Benjamin Graham (thầy của Warren Buffett) là bạn cần phải cố gắng liên tục trong suốt cuộc đời". Bạn không nhất thiết phải đồng ý với phương pháp của Thorp và có thể bạn cũng không đồng ý với Warren Buffett. Bạn đầu tư theo kiểu gì cũng được và có quyền đi con đường riêng của mình nhưng để thành công bạn cần phải nỗ lực và làm việc liên tục không mệt mỏi giống như họ.
Phương pháp của bạn không cần phải đúng với tất cả. Edward Thorp không bao giờ cố gắng đầu tư vào tất cả mọi thứ vì ông đủ thông minh để biết được những hạn chế của mình cũng như sự nguy hiểm của việc tự tin quá mức. Đã có rất nhiều những bộ óc thiên tài, những người từng đoạt giải Nobel như Isaac Newton, Fisher Black, Myron Scholes, Winston Churchill… chẳng phải đã từng thua lỗ nặng nề trên thị trường đó sao?
Trên thị trường Mỹ có hàng ngàn mã cổ phiếu và Edward Thorp chỉ cần hệ thống đầu tư của mình chạy hiệu quả trên vài trăm mã cổ phiếu là đủ rồi. Đây cũng là một trong những lý do quỹ của ông không thể mở rộng và luôn chỉ duy trì ở mức trung bình. Đó là điểm yếu và cũng là ưu điểm của ông: Biết khi nào thì nên dừng lại. Ông cực kỳ thông minh nhưng không hề ảo tưởng về trí tuệ của mình. Hiếm có thiên tài nào trên thế giới lại có được sự tự chủ và ý thức kiềm chế lớn đến như vậy.
Nguyên tắc 2: Đương đầu với sự bất ổn và kiếm lợi từ đó
Đầu tư chứng khoán có nghĩa là đối phó với sự bất ổn. Thay vì tháo chạy lúc thị trường căng thẳng thì nhà đầu tư thông minh lại chào đón xu hướng suy giảm như cơ hội đầu tư tuyệt vời. Thorp minh họa điều này bằng hình ảnh tương tự "Ngài Thị trường", đối tác kinh doanh tưởng tượng của mọi nhà đầu tư.
Hàng ngày ‘Ngài thị trường" chào giá các nhà đầu tư hoặc để mua hoặc để bán cổ phần kinh doanh. Lúc thì thị trường bị quá khích bởi viễn cảnh kinh doanh và đưa ra mức giá quá cao, khi thì thất vọng bởi tương lai và đưa ra mức giá quá thấp.
Bởi thị trường chứng khoán có những cảm xúc tương tự nên bài học ở đây là bạn không nên để những quan điểm của "Thị trường" sai khiến những cảm xúc của riêng chính mình, hoặc tệ hơn là định hướng cho quyết định đầu tư của ta.
Thay vì thế, bạn nên định hình phong cách tiên lượng về giá trị của riêng mình trên cơ sở kiểm chứng sự kiện một cách chắc chắn và hợp lý. Hơn nữa nhà đầu tư cá nhân chỉ nên mua khi giá được chào có ý nghĩa và bán khi được giá. Ở một khía cạnh khác, thị trường đôi khi chao đảo bất thường, nhưng thay vì sợ hãi trước sự bất ổn, chúng ta hãy sử dụng nó như một cơ hội để mua được giá hời và bán ra khi cổ phần đạt được giá cao hơn giá trị thực.
Lê Hằng
Theo Nhịp Sống Việt

18 thg 8, 2019

James Simons –Từ thiên tài toán học trở thành tỉ phú đầu tư nổi tiếng nhất phố Wall có tỷ suất lợi nhuận đến Soros, Buffett cũng phải dè chừng

0 đánh giá

Thật đáng kinh ngạc khi chứng kiến một nhà toán học nổi tiếng lại chuyển hướng và đạt được những thành tựu lớn như vậy trong ngành tài chính..

James Harris Simons (sinh ngày 25 tháng 4 năm 1938) là một nhà toán học người Mỹ, nhà quản lý quỹ phòng hộ tỷ phú và nhà từ thiện. Sinh trưởng trong một gia đình gốc Do Thái, Simons khởi nghiệp bằng con đường học thuật, khi theo đuổi Toán học ở bậc đại học và nhận bằng Tiến sĩ cũng với ngành Toán.
Sau khi tốt nghiệp, ông có nhiều năm giảng dạy bộ môn Toán học tại Đại học Massachusetts và Harvard. Năm 1964, ông tham gia cộng tác tại Viện Phân tích Quốc phòng (Institute for Defense Analyses), công việc chính phân tích dữ liệu và giúp giải mã truy lùng các mối đe dọa quân sự tiềm năng cho Cục An ninh Quốc gia (National Security Agency). Năm 1976, ông thắng Oswald Veblen Prize, giải thưởng danh giá nhất về lĩnh vực hình học của Hiệp hội Toán học Mỹ.
Ông cũng từng giành giải Oswald Veblen của Hiệp hội toán học Mỹ. Nhưng chỉ 2 năm sau, vào năm 1978, ông rời bỏ con đường học thuật và bắt đầu công việc đầu tư, với nhiều ứng dụng từ chính những nghiên cứu toán học trước đây của mình.
"Thật đáng kinh ngạc khi chứng kiến một nhà toán học nổi tiếng lại chuyển hướng và đạt được những thành tựu lớn như vậy trong ngành tài chính", giáo sư Edward Witten tại Viện nghiên cứu nâng cao Princeton, một cộng sự trong khoa học của Simons đã từng nhận xét.
Năm 1982, Simons thành lập Renaissance Technologies, một quỹ đầu tư khởi nguồn tại New York và quản lý nguồn vốn khổng lồ vào thời điểm đó, trên 20 tỷ USD. Ngày nay, ở độ tuổi 71, ông vẫn là CEO của hãng, và đây vẫn là quỹ đầu tư đa quốc gia thành công bậc nhất trên thế giới.
Trong năm 2008, khi thị trường tài chính thế giới lâm vào khủng hoảng và phần lớn quỹ đầu tư lớn thua lỗ, quỹ đầu tư Renaissance Technologies của ông vẫn thu thêm về 2,5 tỷ USD lợi nhuận. Trước đó, năm 2007 là 2,8 tỷ USD. Với tổng tài sản cá nhân hiện tại vào khoảng 5,5 tỷ USD, vị tỷ phú này được tạp chí Forbes xếp hạng giàu thứ 55 tại Mỹ. Năm 2006, ông được tạp chí Time bình chọn là tỷ phú thông thái nhất thế giới.
Tính tới hiện tại, quỹ đầu cơ của ông đã đạt lợi nhuận đạt được gần 60 tỷ USD trong vòng 30 năm. Theo thống kê gần nhất, tổng lợi nhuận của quỹ mang lại còn cao hơn so với các quỹ đầu tư của những tỷ phú nổi tiếng như George Soros hay Ray Dalio, Warren Buffett dù quản lý khối tài sản ít hơn và thời gian đầu tư cũng ngắn hơn.
Trong gần 30 mươi năm điều hành quỹ đầu tư, Simons sử dụng các thuật toán để phân tích các thị trường giao dịch, trong đó nhiều phần được làm tự động. Renaissance của ông chuyên sử dụng các mô hình toán học để dự báo giá cổ phiếu trên các thị trường khắp thế giới.
Hãng quản lý quỹ này cũng có bộ máy nhân sự khác biệt so với tất cả quỹ đầu cơ khác trên thế giới, bởi nó bao gồm tập hợp các nhà khoa học và chuyên gia nghiên cứu, đặc biệt là toán học.
Simons đề ra tiêu chí để tuyển dụng là những người có năng lực đã được thừa nhận về nghiên cứu khoa học, để thực hiện các mô hình toán học về những thị trường mà quỹ đầu tư. Rất nhiều nhân sự của hãng này bước thẳng từ phòng nghiên cứu của các hãng công nghệ như IBM hay Bell sang quỹ, mà chưa hề có kinh nghiệm về thị trường tài chính. Và kết quả, như đã được thực tế chứng minh, và như chính ông chủ quỹ Simons nhận xét là hơn cả mong đợi.
Simons cũng là một nhà hoạt động xã hội tích cực. Ông và vợ thành lập Quỹ Paul Simons, một tổ chức từ thiện chuyên hỗ trợ các dự án giáo dục, y tế, đặc biệt là bệnh tự kỷ ở trẻ nhỏ, và nghiên cứu khoa học. Ông cũng có nhiều hoạt động từ thiện khác trên danh nghĩa 2 người con trai quá cố của mình. Tính đến nay Simons đã chi hàng chục triệu USD cho các hoạt động từ thiện và dự kiến dành thêm 200 triệu USD trong các năm tới.
Bí quyết thành công của Quỹ Renaissance đã khiến rất nhiều nhà đầu tư tò mò, tuy vậy ông hiếm khi tiết lộ thông tin với báo giới và những nhân viên được lệnh cấm thảo luận về hệ thống làm việc tối mật trong công ty. Gần đây nhất trong một bài phỏng vấn với Forbes, mặc dù không tiết lộ nhiều về hệ thống riêng của ông nhưng Simons cũng đã mở rộng lòng chia sẻ một số kinh nghiệm đầu tư cho những nhà đầu tư mới:
1. Cố gắng xây dựng một hệ thống giao dịch phù hợp với phong cách của bản thân. Một hệ thống giao dịch phù hợp chính là biên bản thỏa thuận được kí kết giữa nhà đầu tư và thị trường.
2. Một cổ phiếu khi đã thực sự bước vào sóng uptrend, nó sẽ tăng giá trong khoảng thời gian từ 2 tháng trở lên thậm chí tới 6-8 tháng, chính vì vậy nhà đầu tư không việc gì phải vội vàng nếu nó chỉ vừa mới tăng.
"Nhỡ nó tăng mất thì sao" là nỗi sợ của rất nhiều nhà đầu tư chứng khoán. Lý do là họ chưa phân biệt được đâu là cổ phiếu tăng thực sự - đâu là cổ phiếu "ăn theo". Một cổ phiếu tăng thực sự chí ít sẽ tăng từ 2 - 6 tháng thậm chí dài hơn. Còn một nhịp tăng của cổ phiếu ăn theo thì chỉ tầm 2 - 3 tuần là kết thúc. Việc mua đúng cổ phiếu hàng đầu vào sóng tăng thì dù có mua muộn cũng lãi 20 - 30% là chuyện bình thường trên thị trường cổ phiếu.
3. Đừng quá tự tin
Qua những giao dịch, ông đã học được một điều trên thị trường, đó là đám đông điên loạn, thường sẽ phi lý trí và khi họ bị cảm xúc lấn át, đó là lúc họ luôn luôn phạm phải sai lầm.​
Ông cũng nói rằng sự thông minh mà bạn có được nếu không rèn luyện học hỏi mà đem nó đi chiến đấu với thị trường ngay tức khắc vốn là một điều vô cùng sai lầm. Bạn quá tự tin khi vào lệnh, bạn đặt bạn vào rủi ro vì cái tôi của mình và chắc chắn bạn sẽ tiếp tục mất tiền. Đừng quá tự tin, hãy chăm chỉ học hỏi, rèn luyện ắt đầu tư sẽ có ngày thành công.
4. Mua tại lần điều chỉnh đầu tiên (first pullback) sau khi giá thiết lập đỉnh cao mới. Bán ngay sau lần hồi phục đầu tiên (first rally) sau khi giá tạo đáy mới.
5. Nếu thị trường đang mạnh lên hay yếu đi, nó phải được thể hiện đà ở ngày tiếp theo (ví dụ phải có ngày bùng nổ theo đà (follow through) sau phiên tăng giá mạnh).
6. Các khoảng trống (Gap) xuất hiện càng rộng (lớn), khả năng cao xu hướng sẽ tiếp diễn.
7. Khi thị trường giao dịch ở quay đỉnh hoặc đáy của ngày hôm trước là chỉ báo tốt cho thấy thị trường đang mạnh lên hay yếu đi.
8. Giao dịch cuối cùng thường nói cho chúng ta biết sự thật về xu hướng hiện tại. Dòng tiền "thông minh" thường ra tay vào giờ giao dịch cuối cùng. Khi thị trường vẫn còn đóng cửa tăng giá mạnh, xu hướng tăng sẽ còn tiếp diễn trong phiên tới. Khi xu hướng tăng giá kết thúc, nó thường đảo chiều vào buổi sáng và sau đó, giá đóng cửa cuối phiên sẽ giảm.
9. Khối lượng giao dịch lớn vào lúc đóng cửa hàm ý xu hướng sẽ tiếp tục vào buổi sáng tiếp theo hướng cửa nửa giờ giao dịch cuối cùng. Trong thị trường có xu hướng mạnh, hãy quan sát khả năng giá sẽ quay trở lại xu hướng chính ở giờ giao dịch cuối cùng.
10. Thế giới tài chính được tạo ra bởi hành vi con người. Không ai có thể biết điều gì sẽ xảy ra trong tương lai. Do đó nhà giao dịch thành công không phải là người dự đoán điều gì sắp diễn ra mà phải biết phản ứng như thế nào với mọi tình huống.
Lê Hằng
Theo Trí thức trẻ

30 thg 6, 2019

David Dodd: Người thầy đốt đuốc thắp sáng con đường cho những nhà đầu tư giá trị

0 đánh giá


David Dodd đã cùng với người đồng nghiệp Benjamin Graham quyết định viết nên cuốn sách cẩm nang "gối đầu giường" của nhà đầu tư chứng khoán mọi thời đại – cuốn Security Analysis (Tựa đề Việt: Phân tích chứng khoán).

David LeFevre Dodd ( sinh ngày 23 tháng 8 năm 1895 – mất ngày 18 tháng 9 năm 1988) là một nhà giáo dục, nhà phân tích tài chính. Đồng thời ông cũng là tác giả chuyên viết sách kinh tế và là một nhà đầu tư chuyên nghiệp. Ông cũng chính là người đồng nghiệp thân thiết của Benjamin Graham tại Trường đại học kinh doanh Columbia.


Cả cuộc đời ông nếu như để kể lại đều gắn liền với sự nghiệp học hành không ngừng nghỉ. Năm 1925, ông là giảng viên kinh tế tại Đại học Columbia. Đồng thời, ông cũng nhận nhiệm vụ phụ trách chính các khóa học thạc sĩ kinh doanh và kinh tế tại trường này. Năm 1930, ông nhận bằng Tiến sĩ tại Đại học Columbia. 30 năm sau đó, ông tiếp tục hoàn thành đồ án và được trao danh hiệu Giáo sư danh dự cao quý.

Từ năm 1948 đến 1952, ông trở thành Phó khoa kinh tế tại Trường Kinh doanh Columbia. Năm 1961, ông nghỉ hưu với tư cách là Giáo sư danh dự cố vấn về tài chính cho trường Đại học Columbia. Sau này, ông được chính chủ tịch đại học Columbia trao tặng danh hiệu cao quý vì đã áp dụng thành công các lý thuyết tài chính và đạt được kết quả tuyệt vời trong đầu tư chứng khoán.

Bên cạnh đó, Dodd cũng là thành viên của nhiều tổ chức hiệp hội kinh tế Mỹ như: hội đồng nghiên cứu khoa học, hiệp hội tài chính Mỹ và hiệp hội phân tích an ninh New York… Có thể nói, cuộc đời ông chính là một minh chứng rõ rệt nhất cho sự nghiệp học hỏi – trau dồi kiến thức không ngừng nghỉ.

Sau này, ông đã cùng với người đồng nghiệp Benjamin Graham quyết định viết nên cuốn sách cẩm nang "gối đầu giường" của nhà đầu tư chứng khoán mọi thời đại – cuốn Security Analysis ( Tựa đề Việt: Phân tích chứng khoán).
79 năm kể từ khi cuốn sách ra đời, cho đến tận bây giờ, những nhà đầu tư giá trị chân chính thời nay vẫn nặng lòng biết ơn họ. Có thể nói, Dodd và Graham chính là hai nhà tư tưởng cần mẫn và sâu sắc đến lạ thường, những người đã mang luồng ánh sáng chọi rọi đến cho thế giới tài chính – chứng khoán hoang sơ tăm tối ở thời điểm của họ. Kể từ đó, họ đã thắp sáng con đường cho những nhà đầu tư giá trị.
Thời gian dần trôi qua, thị trường tài chính cũng đã thay đổi theo nhiều cách không tưởng kể từ năm 1934, nhưng phương pháp đầu tư của Graham và Dodd vẫn còn nguyên tính ứng dụng tuyệt vời đến ngày nay.

Trong một bài báo phỏng vấn ông năm 1970, có một phóng viên khi ấy đã hỏi ông "Đầu tư chứng khoán có phải con đường duy nhất nhanh giàu được không?". Dodd đã không đi khẳng định điều đó, ông chỉ khuyên nhủ mỗi người dù chọn con đường kiếm tiền nào đi chăng nữa cũng hãy dồn hết tâm sức và trí tuệ vào điều đúng đắn bản thân đã lựa chọn.

Đối với quan điểm của cá nhân ông, những người thành đạt từ đầu tư chứng khoán, họ không phải giàu lên từ một, hai lần mua bán, mà là nghề, cũng là niềm đam mê tâm huyết cũng như chính sự nghiệp của họ. Và các nhà đầu tư trên thị trường, dù mới hay lâu năm thì trước khi đến với sự nghiệp đầu tư, chúng ta hãy nghiêm túc dành thời gian và công sức nỗ lực cho việc tìm hiểu – định hướng kĩ càng và đừng bao giờ coi nhẹ chúng chỉ như "một trò đỏ đen".

Một phần lý do thành công là ông đã xuất sắc những chọn được những cổ phiếu tốt, có suất sinh lợi cao hơn thị trường. Một lý do khác, quan trọng hơn, đó là ngài Dodd biết kiên trì ôm tiền mặt khi thị trường đi xuống chứ không vì sốt ruột mà lao vào mua. Chính chiến lược này đã giúp ông tránh được thua lỗ trong hai lần thị trường suy thoái.

Ông cũng ví von nhà đầu tư chứng khoán cũng phải giống như con báo: "Tuy con báo là loài vật chạy nhanh nhất thế giới và nhưng chỉ khi nào chắc chắn 100% có thể bắt được mồi, con báo mới tấn công. Nó có thể ẩn náu trong bụi rậm cả tuần liền chỉ để chờ một cơ hội thích hợp. Nhà đầu tư chuyên nghiệp cũng nên như vậy, chỉ khi nào cảm thấy thực sự chắc chắn mới nên giao dịch". Ông luôn đầu tư và sống theo đúng phương châm "Kiên trì rồi điều gì cũng đạt được".
Nhà đầu tư không những phải kiên nhẫn khi đang cầm tiền mà còn phải kiên nhẫn khi đang "ôm hàng" để tránh rơi mất hàng khi thị trường rung lắc.

Những nhà đầu tư mới vào thường thất bại vì thua lỗ lớn, còn dân chuyên nghiệp lại thất bại vì ham lợi nhỏ. Bản năng của con người khiến nhiều nhà đầu tư muốn tối đa hóa xác suất có lợi nhuận thay vì tối đa hóa lợi nhuận, tài khoản của mình chỉ có một màu xanh, muốn khoản đầu tư nào của mình có có lãi dù chỉ là chút đỉnh.

Chính tâm lý này khiến nhiều nhà đầu tư "ăn non", bán mất hàng khi thị trường rung lắc để rồi sau đó phải nuối tiếc khi nhìn cổ phiếu mình vừa bán tiếp tục bay cao, bay xa. Nếu không giữ lấy những cổ phiếu tốt thì lấy gì để bù vào khoản lỗ của các cổ phiếu kém?

Trong giai đoạn thời kì đó, khi chỉ số S&P 500 của thị trường chứng khoán Mỹ đã hai lần mất gần 50% giá trị thế nhưng lần thiệt hại lớn nhất của ông chỉ mất chưa tới 12%. Tuy nhiên hiệu suất sinh lời của ông lại lên tới gần 30% đều đặn trong suốt chu kỳ kinh tế 30 năm đầu tư của ông. Qua những thăng trầm của thị trường, Dodd thừa nhận ông chính là người hết sức kiên nhẫn thì mới có thể đứng ngoài thị trường trong những khoảng thời gian dài như nhiều đợt suy thoái khủng hoảng tài chính toàn cầu trong quá khứ.

Để đạt được thành công đó, một trong những kinh nghiệm mà ông đưa ra được đúc kết đến hiện tại như sau:

1. Chọn mua cổ phiếu ở một mức biên an toàn (Margin of safety)

Thông thường chúng ta thường có xu hướng yêu thích việc mua hàng khi đang giảm giá. Hoàn toàn tương tự trong việc mua bán cổ phiếu, nhà đầu tư thông thái luôn là người muốn mua được cổ phiếu ở mức giá thấp hơn đáng kể so với giá trị của nó, thường chỉ xuất hiện khi doanh nghiệp lâm vào tình trạng khủng hoảng.
Mức chênh lệch thấp hơn đó chính là biên an toàn, tức là một khoảng cách an toàn để phòng ngừa rủi ro giá trị nội tại của cổ phiếu bị sụt giảm so với giá trị tại thời điểm nhà đầu tư mua vào.

2. Kiên nhẫn và cẩn trọng

Nhà đầu tư giá trị chỉ hành động khi cơ hội xuất hiện. Họ sẵn sàng bỏ qua hàng loạt cơ hội và không có thêm một khoản đầu tư nào trong suốt thời gian dài, mặc dù thị trường diễn biến rất tốt. Chính vì thế, những nhà đầu tư giá trị vĩ đại rất ít khi giải ngân, nhưng mỗi lần giải ngân thường là những khoản đầu tư có giá trị lớn.

3. Không nên quá tập trung vào cơ hội, trước tiên phải hạn chế tối đa mức rủi ro

Dodd cho rằng việc hạn chế tối đa rủi ro trong đầu tư chứng khoán quan trọng không kém việc tìm kiếm cơ hội đầu tư trong tương lai. Thông thường để hạn chế rủi ro trong đầu tư chứng khoán, nhà đầu tư cần được trang bị kiến thức tốt về thị trường: Phân tích môi trường vĩ mô trong và ngoài nước, phân tích các công ty niêm yết (chú ý phân tích làm rõ các khía cạnh như lợi thế cạnh tranh, năng lực quản trị công ty, tình hình tài chính công ty, chu kỳ ngành…).
Đồng thời xác định đúng giá trị nội tại của cổ phiếu và hiểu rõ bản chất sự dao động giá trên thị trường chứng khoán, phân tích và lựa chọn thời điểm mua bán có lợi nhất. Cuối cùng là lựa chọn quan điểm đầu tư một cách nhất quán.

Lê Hằng
Theo Trí thức trẻ


26 thg 5, 2019

Jesse Livermore – Những bài học đến từ nhà đầu cơ vĩ đại và “bi kịch” nhất lịch sử phố Wall

0 đánh giá

Livermore đã đầu tư và sống theo đúng phương châm "Thà một phút huy hoàng rồi vụt tắt, còn hơn buồn le lói suốt trăm năm"…

Jesse Lauriston Livermore là một trong những thiên tài đầu tư có sức ảnh hưởng lớn nhất trên thế giới. Nhắc tới ông, bất cứ nhà đầu tư cá nhân tham gia thị trường chứng khoán nào trên thế giới đều ít nhất nghe qua một lần về nhà đầu cơ khét tiếng này với biệt danh "Con gấu vĩ đại của phố Wall".
Giới đầu tư đều biết đến Livermore như một nhà đầu tư liều lĩnh nhất trong thời đại bởi cách ông dám đầu cơ một lượng lớn cổ phiếu hoặc hàng hóa. Livermore đã đầu tư và sống theo đúng phương châm "Thà một phút huy hoàng rồi vụt tắt, còn hơn buồn le lói suốt trăm năm".
Tiểu sử Livermore
Jessie Livermore vốn được sinh ra ở thị trấn South Acton, tiểu bang Massachusetts vào năm 1877 trong một gia đình nhà nông nghèo khó. Là con trai của một chủ nông trại, ông đã bỏ học sớm khi mới chỉ học hết cấp 2, và chuyển đến Boston nơi ông trở thành nhân viên quèn của công ty Chứng khoán Paine Webber . Công việc này đòi hỏi ông phải cập nhật các thông tin về giá của cổ phiếu, trái phiếu và các loại hàng hóa trên bảng lớn bằng phấn.
Trong quá trình làm việc của mình, Livermore ghi nhận được sự biến động của giá cả, ông cũng đã nhận xét được rằng giá cả thường thay đổi theo chiều hướng có thể đoán được. Ông đã sớm kết luận rằng có thể chiến thắng được thị trường, và rằng ông có thể kiếm được một số tiền lớn.
Với mức lương quá thấp không đủ sống, Livermore dành dụm một số tiền nhỏ để giao dịch ở các quán chợ đen (bucket shop). Về sau, tiền kiếm được từ các khoản đầu cơ qua chợ đen vượt trội với mức lãi chênh lệch lên tới 70-80% bằng vài tháng tiền công đi làm đã khiến Livermore đưa ra quyết định nghỉ việc và chính thức trở thành một đầu cơ toàn thời gian. Khi chỉ mới vừa tròn tuổi 17, ông đã kiếm được hơn 1 ngàn Đô la Mỹ– số tiền này có thể được cân nhắc là khá lớn vào thời điểm hiện nay.
Khi mới vào tuổi 20, Jesse Livermore chuyển đến New York. Tại New York, Livermore đã khởi đầu sự nghiệp của ông mà hiện được nhìn nhận như một nhà kinh doanh vĩ đại nhất của mọi thời đại.
Vào năm 1906 ông nhận được một lời mách nước rằng nên đầu tư bán khống cổ phiếu của Union Pacific, và ông đã thực hiện một thương vụ khá lớn. Cổ phiếu của Union tăng giá, và Livermore đã thực sự gặp phải rắc rối.
May mắn thay, trận động đất ở San Francisco đã khiến cho cổ phiếu Union Pacific mất giá thảm hại, và đem lại cho Livermore khoản lợi nhuận 250.000 đô la Mỹ. Sự kiện này cũng đem lại cho ông một bài học rõ ràng về sự nguy hiểm của việc nghe theo các lời mách nước một cách mù quáng.
Năm 1907, khi cả thị trường chứng khoán Mỹ rơi vào trạng thái "call margin" – nhiều người cho rằng là cả thị trường đã vĩnh viễn ra đi, không còn một lực mua nào nữa. Khi ngài J.P.Morgan tập hợp các ông chủ nhà băng lại và tập hợp nguồn dự trữ để mua lại các ngân hàng yếu kém, Livermore đã chớp thời cơ có một không hai này và mua cổ phiếu trên diện rộng – ông đã kiếm được 1 triệu USD chỉ trong một ngày.
Ông cũng là người thực hiện nhiều vụ đầu cơ cổ phiếu thép, dầu khí và dần trả hết nợ vay cho các chủ nợ trước đây. Đến năm 1923, ông lập quỹ đầu cơ riêng, tạo việc làm cho hơn 60 người và bí mật viết cuốn tiểu sử huyền thoại "The Reminiscene of a Stock Operator" – một trong những quyển bán chạy nhất lúc bấy giờ. Từ năm 1923 đến cuộc Đại khủng hoảng , Livermore đã kiếm hàng chục triệu USD từ đầu cơ hàng hóa như lúa mạch và ngô.
Và thương vụ thành công cuối cùng là khi ông quyết định bán khống một lượng lớn vào tháng 10/1929. Trong vỏn vẹn chỉ một ngày "Thứ ba đen tối", tài sản của Livermore đã đạt 100 triệu USD trong khi cả quốc gia Mỹ rơi vào hoảng loạn; ông chính thức trở thành một huyền thoại bán khống lớn nhất bấy giờ.
Sau phi vụ để đời này, ông đã không ngần ngại chi rất nhiều tiền để mua biệt thự, máy bay, du thuyền, ô tô hạng sang và cả những mối quan hệ nhập nhằng với nhiều cô gái. Chính sự đắm chìm trong cuộc sống vương giả hào nhoáng sa hoa của ông là tiền đề cho một chuỗi bi kịch cuộc đời sau này khi càng ngày Livermore càng từ bỏ đi các quy tắc của chính bản thân ông.
Năm 1940, vì không chịu nổi áp lực từ đầu tư và cuộc sống, sau 3 lần phá sản sau chuỗi thành công huy hoàng, ông đã dùng súng bắn vào đầu tự sát. Nghiệt ngã thay khi chính thị trường chứng khoán, nơi mà Livermore đã dành cả cuộc đời để đánh bại, cuối cùng đã quật ngã ông.
Sau này khi ông mất, trong một cuốn hồi ký được tìm thấy, Livermore đã chia sẻ hai điều ông tâm đắc nhất trong cuộc đời đầu tư của chính mình:
1. Đối thủ nặng kí nhất chính là bản thân ta – Biết học cách tự kiểm soát trong đầu tư
Livermore sau những thành công chóng vánh và những lần gục ngã đau đớn, ông luôn cho rằng đối với một nhà đầu tư thì đối thủ nặng ký nhất chính là bản thân họ. Đôi khi ta luôn tự cho và tự tìm chứng cứ rằng những quyết định đầu tư của chúng ta là đúng, và ta có khả năng tự kiểm soát bản thân. Chúng ta cũng có bản năng tự nhiên là đấu tranh để học cách sinh tồn. Tất cả những cảm xúc và bản năng này có thể kết hợp lại để cung cấp cho chúng ta sự thành công trong giao dịch từ nay về sau. Tuy nhiên, trong phần lớn các thời gian, cảm xúc của chúng ta thường dẫn chúng ta đến việc đầu tư thua lỗ nếu ta không học cách tự kiểm soát.
Sẽ là lý tưởng nếu chúng ta có thể tách bản thân ra khỏi cảm xúc. Nhưng không may là điều này không thể và thực ra chỉ có 1 số ít trong các cảm xúc của chúng ta có thể thực sự hữu dụng trong giao dịch.
Cách tốt nhất là là bạn phải học cách để hiểu bản thân như là một nhà giao dịch. Xác định điểm mạnh, điểm yếu của mình và sử dụng lấy một kiểu giao dịch được cho là tốt nhất đối với bạn. Để trở nên thành công, nhà đầu tư nào cũng biết rằng mình cần phải học cách duy trì sự kỷ luật và học cách kiểm soát cảm xúc của chính mình, cũng như suy nghĩ của bản thân. Ngành công nghiệp này trong hàng chục năm đã chứng kiến rất nhiều sự thất bại của Trader vì một lý do thường gặp là để cảm xúc can thiệp quá nhiều vào các quyết định giao dịch
2. Tính kỷ luật trong đầu tư
Thiên tài đầu tư Jesse Lauriston Livermore đã từng nhận định: "Một nhà đầu tư thiếu kỷ luật sẽ không bao giờ có thể thành công trên thị trường chứng khoán". Đầu tiên có thể nêu ra đó là hay thay đổi. Những nhà đầu tư thuộc kiểu này thường rất hay nghe ngóng và đi thay đổi phương pháp giao dịch của họ. Họ không nhận ra rằng để sử dụng hiệu quả một hệ thống giao dịch cần phải có thời gian. Nếu bản thân nhà đầu tư không bám sát một hệ thống hay phương pháp giao dịch đủ lâu, thử nó một vài tuần thấy ổn, rồi khi nó hoạt động không tốt ở một điều kiện thị trường nào đó là họ lại đi tìm một phương pháp mới và rồi cứ thế luẩn quẩn trong cái vòng tròn mà chính bản thân tự tạo ra.
Hãy nhớ rằng không có một phương pháp giao dịch nào hoạt động hiệu quả trên tất cả các điều kiện thị trường. Việc của ta là hãy kiên trì theo đuổi phương pháp mà bản thân lựa chọn một cách kỷ luật, nhận ra những điều kiện thị trường nào mà khi đó phương pháp giao dịch hoạt động không hiệu quả để hạn chế và đưa ra biện pháp khắc phục. Đừng nghe ngóng và tin theo bất cứ ai, hãy cứ " Follow your systems", đi theo phương pháp đầu tư của bản thân, ghi chép và đúc kết lại bài học sau mỗi giao dịch "Ta lãi vì sao, ta mất vì nguyên do gì…" rồi từ đó đúc kết và rút kinh nghiệm cho những lần giao dịch sau.
Lê Hằng (theo Trí thức trẻ)

8 thg 1, 2019

15 đức tính của một nhà đầu tư thành công

0 đánh giá

Bạn đã bao giờ ước mình trở thành nhà đầu tư thiên tài như Warren Buffett, Peter Lynch hay George Soros? Điều gì họ đã làm để có được thành công? Dưới đây là những điều cần thực hiện.

1. Ham học hỏi
Các nhà đầu tư thành công thường học hỏi không ngừng. Họ dành nhiều thời gian để nghiên cứu hơn các nhà đầu tư bình thường. Họ biết rằng kiến thức của mình sẽ không bao giờ là đủ, và do vậy luôn giữ đầu óc thông thoáng để có thể học bất kỳ lúc nào. Họ năng đọc sách, báo, tạp chí và tham gia các buổi hội thảo để tự hoàn thiện chính mình.
2. Luôn chuẩn bị kế hoạch rút lui
Các nhà đầu tư thành công biết rằng việc đầu tư luôn có hai mặt. Tương lai là không thể đoán được và vì vậy họ luôn chuẩn bị trước cho nó. Nhà đầu tư bình thường luôn cố gắng đoán kết quả đầu tư. Nhưng nhà đầu tư thông minh thì làm điều ngược lại, họ chuẩn bị cho cả trường hợp tốt đẹp nhất và tồi tệ nhất.
Đó là lý do tại sao các nhà đầu tư thành công luôn kiếm được tiền khi thị trường đi lên và thậm chí còn kiếm được nhiều hơn khi thị trường đi xuống. Vì vậy, nếu bạn muốn thành công, hãy chuẩn bị kế hoạch rút lui trước khi đầu tư vào bất cứ thứ gì.
3. Kiên nhẫn
Các nhà đầu tư tài ba rất kiên nhẫn. Một khi đã tính toán về vụ đầu tư nào đó, họ luôn sẵn sàng chờ đợi để chắc chắn rằng kế hoạch đó sẽ thành sự thực. Warren Buffet nói: “Tôi chưa bao giờ có ý định kiếm tiền từ thị trường chứng khoán. Tôi chỉ mua vì suy nghĩ rằng họ sẽ đóng cửa thị trường ngay ngày mai và phải đến 5 năm sau mới mở lại”.
4. Kiểm soát cảm xúc tốt
Các nhà đầu tư thực thụ đều biết rằng thị trường lên và xuống chủ yếu do hai yếu tố tình cảm là sự sợ hãi và lòng tham. Các nhà đầu tư bình thường đầu tư dựa vào cảm giác. Nhưng những người thành công thì luôn biết cách kiểm soát tốt cảm xúc của mình. Họ không cho phép những lời nói của các chuyên gia hay nhà tư vấn tài chính ảnh hưởng đến sự lựa chọn và phương pháp đầu tư của họ.
Các nhà đầu tư thành công thường có phản ứng trung lập dù họ được hay mất. Họ không từ bỏ chiến lược đầu tư của mình chỉ vì một vài thất bại và cũng không quá tự tin khi là người chiến thắng. Dù thị trường có như thế nào, thì họ cũng luôn nghĩ cơ hội thắng thua là 50-50.
5. Có chiến lược đầu tư rõ ràng
Mỗi nhà đầu tư đều phải phát triển một chiến lược đầu tư rõ ràng để gắn chặt với nó. Một vài người thành công với chiến lược đa dạng hóa danh mục đầu tư. Còn một số khác như Warren Buffet lại chỉ thích đầu tư tập trung vào một số ít cổ phiếu. Ông nói: “Đa dạng hóa là cách để chống lại việc mình không biết. Nhưng nó chẳng có mấy ý nghĩa đối với những người biết rõ là họ đang làm gì”.
J. Paul Getty - một nhà đầu tư tài ba khác, cho rằng: “Hãy mua khi tất cả mọi người đều đang bán và hãy bán khi tất cả mọi người đang mua. Đây không đơn thuần chỉ là một khẩu hiệu dễ nhớ, mà nó còn rất cần thiết cho việc đầu tư thành công”.
6. Tập trung cao độ
Andrew Carnegie nói: “Những người thành công là những người chọn cho mình một con đường và gắn chặt lấy nó”.
Các nhà đầu tư thành công thường chỉ tập trung vào một phương tiện đầu tư. Họ chỉ đầu tư một lần vào một thời điểm. Ví dụ, Warren Buffet tập trung vào cổ phiếu, Jim Rogers thích các hợp đồng tương lai và Donal Trump thì ưa chuộng bất động sản.
7. Biết tận dụng các xu thế thị trường
Một đặc điểm khác của các nhà đầu tư thành công là họ luôn biết lấy các xu thế thị trường để làm lợi cho mình. Một nhà đầu tư bình thường sẽ hoảng loạn khi thị trường biến động, nhưng một nhà đầu tư chuyên nghiệp lại rất nóng lòng chờ đón điều đó. Đơn giản vì họ có thể kiếm tiền từ việc này.
Warren Buffet nói: “Hãy coi những sự biến động của thị trường là bạn chứ đừng coi là thù. Hãy kiếm lời từ những hành động điên rồ chứ đừng tham gia vào nó”.
8. Luôn luôn vững tin
Henry Ford nói: “Khi mọi thứ dường như đang quay lưng với bạn, thì hãy luôn nhớ rằng máy bay cất cánh được khi bay ngược chiều chứ không phải thuận chiều gió”.
Vì vậy, hãy luôn trung thành với chiến lược đầu tư của mình kể cả khi bạn được hay mất. Các nhà đầu tư bình thường thiếu sự kiên định, và do vậy họ mãi mãi chỉ là những người bình thường mà thôi. Họ nhảy hết chiến lược nọ đến chiến lược kia và chỉ chăm chăm tìm kiếm các bí quyết mới.
9. Chấp nhận rủi ro
Warren Buffet nói: “Rủi ro chỉ đến khi bạn không biết mình đang làm gì”.
Đầu tư vốn đã là một sự rủi ro, nhưng nó sẽ càng rủi ro hơn nếu bạn không biết mình đang làm gì. Với các nhà đầu tư chuyên nghiệp, cơ hội thắng thua luôn là 50 – 50. Nhưng sự khác biệt lớn giữa các nhà đầu tư chuyên nghiệp và nhà đầu tư thông thường là những người chuyên nghiệp luôn đầu tư với sự hỗ trợ của cả một hệ thống quản trị rủi ro mạnh mẽ.
10. Có kỉ luật
Nhà đầu tư thành công rất hà khắc với bản thân khi đầu tư. Bên cạnh các nguyên tắc đầu tư, họ cũng tự đặt ra cho mình những chuẩn mực rất khắt khe. Họ biết rằng mình sẽ phải tuân theo rất nhiều nguyên tắc để có thể kiên trì với chiến lược đầu tư của mình mà không bị dao động bởi lời nói của các chuyên gia.
Warren Buffet nói: “Hai nguyên tắc đầu tư của tôi là: Nguyên tắc số một – không bao giờ để mất tiền. Nguyên tắc hai – không bao giờ được quên nguyên tắc một”.
11. Biết cách tận dụng các đòn bẩy
Điểm khác biệt giữa một nhà đầu tư thành công và một nhà đầu tư thông thường là đầu tư bằng tiền của người khác. Dùng tiền của người khác để đầu tư cũng là một dạng đòn bẩy. Trong cuốn sách “Cha giàu - Cha nghèo” có câu: “Từ quan trọng nhất trong đầu tư là ‘dòng tiền’, và từ quan trọng thứ hai là ‘đòn bẩy’”.
Nhưng đây không phải là dạng đòn bẩy duy nhất mà các nhà đầu tư có thể tận dụng. Đó cũng có thể là đội ngũ chuyên gia của bạn, kinh nghiệm đầu tư hay thông tin nội bộ mà bạn có được.
J. Paul Getty nói: “Nếu bạn nợ ngân hàng 100 USD, đó là vấn đề của bạn. Nhưng nếu bạn nợ ngân hàng 100 triệu USD, thì đó lại là vấn đề của ngân hàng”.
12. Nhanh chóng rút kinh nghiệm từ thất bại
Khi nói về kinh nghiệm, các nhà đầu tư chỉ nói về những lần thử nghiệm, thất bại, các bài học và sự thành công. Bạn sẽ không thể trở thành một nhà đầu tư tài ba nếu chưa từng mắc sai lầm.
Những người thành công không bao giờ nản chí vì thất bại bởi họ hiểu rằng đó là một giai đoạn trong quá trình trở thành nhà đầu tư chuyên nghiệp. Những người bình thường coi việc mắc lỗi là tệ hại, nhưng những người thành công lại cho rằng đó là cơ hội để học được những điều mới mẻ.
13. Có một đội ngũ cố vấn chuyên nghiệp
Nếu quan sát các nhà đầu tư thành công, bạn sẽ thấy rằng họ luôn có một đội ngũ cố vấn chuyên nghiệp. Các nhà đầu tư thông thường luôn đơn độc chiến đấu trên thị trường, trong khi các nhà đầu tư chuyên nghiệp luôn có cả một hội đồng hậu thuẫn.
Họ có cả một mạng lưới bạn bè là những nhà đầu tư chuyên nghiệp. Họ chia sẻ lời khuyên và cùng nhau suy nghĩ. Vậy nếu bạn cũng muốn thành công như họ, thì hãy bắt đầu tìm kiếm bạn bè của mình ngay từ bây giờ.
14. Có một nền tảng tài chính vững mạnh
Ajaero Tony Martins nói: “Trí thông minh kinh doanh không hề được tạo ra trong trường học, mà bạn nhặt được nó ở trên đường. Trong trường học, bạn được dạy làm thế nào để quản lý tiền của người khác. Và ở trên đường, bạn được dạy làm thế nào để kiếm tiền”.
Do vậy, bạn chỉ thành công khi đứng ở trên đường. Các nhà đầu tư thành công thường có một nền tảng tài chính rất vững chắc, và nền tảng đó được hình thành ở trên đường. Họ bồi đắp cho cái nền tảng đó bằng cách tham gia các buổi hội thảo, đọc sách báo, tạp chí, học từ người khác hay nghe băng. Và sau đó họ đi ra ngoài để tự tìm lấy những kinh nghiệm cho mình.
15. Luôn nhiệt tình với trò chơi đầu tư
Một tác giả nổi tiếng đã từng nói: “Nếu bạn có ý định tham gia một trò chơi, hãy chọn cho mình một trò mà bạn có thể chơi suốt cuộc đời và gắn chặt lấy nó”.
Nếu bạn nhìn vào những nhà đầu tư thông thường, họ luôn nghĩ đến việc họ đang kiếm được bao nhiêu tiền. Nhưng những nhà đầu tư thành đạt không vội hài lòng với những gì mình có, mà luôn cố gắng đạt lợi nhuận tối đa.
J. Paul Getty nói: “Sự giàu có chính là phần thưởng của trò chơi kiếm tiền, và nếu bạn chiến thắng, tiền sẽ là của bạn”.
Hà Thu (theo Investorguide)

13 thg 12, 2018

Cuộc gọi lúc nửa đêm của Buffett giúp giải cứu Mỹ năm 2008

0 đánh giá
Tỷ phú đầu tư Warrent Buffett trong một cuộc phỏng vấn năm 2008. Ảnh AFP

Warren Buffett đã hiến kế cho Bộ trưởng Tài chính Mỹ để vực dậy nền kinh tế trong thời kỳ khủng hoảng tài chính. 

Nửa đêm một ngày tháng 10/2008, đỉnh điểm của khủng hoảng tài chính toàn cầu, tỷ phú đầu tư Warren Buffett đã gọi Bộ trưởng Tài chính Mỹ thời đó - Henry "Hank" Paulson để đề xuất ý tưởng có thể lật ngược tình thế cho kinh tế Mỹ. Paulson khi ấy đã đi ngủ. Ông vừa dành cả tối nghiên cứu hàng loạt chính sách cùng các đồng nghiệp để khôi phục niềm tin tại Wall Street.
"Tôi đã rất kiệt sức", Paulson kể lại trong một chương trình của HBO. Khi ấy, Quốc hội Mỹ vừa thông qua Đạo luật Bình ổn Kinh tế Khẩn cấp, còn được gọi là "dự luật cứu trợ", đồng thời lập ra Chương trình Giải cứu Tài sản gặp Rắc rối trị giá 700 tỷ USD, nhằm mua lại tài sản của các ngân hàng đang khó khăn. Tuy nhiên, những động thái này vẫn chưa đủ giúp nhà đầu tư bình tĩnh.
"Trong khi chúng tôi trình dự luật này lên Quốc hội, tình hình lại tiếp tục xấu đi. Hai vụ ngân hàng sụp đổ lớn nhất lịch sử nước Mỹ diễn ra, là Wachovia và Washington Mutual", Paulson cho biết, "Chúng tôi cần thứ gì đó có tác dụng nhanh hơn và mạnh hơn".
Buffett khi đó cũng nghĩ ra một giải pháp, và gọi điện cho Paulson. Ban đầu, Paulson cảm thấy băn khoăn khi nghe tên người gọi: "Mẹ tôi có một người sửa đồ lặt vặt tên Warren. Tôi không hiểu sao ông ấy lại gọi cho mình?".
Khi biết đó là Warren Buffett, Paulson đã lắng nghe ý kiến của tỷ phú "giúp chúng tôi nảy ra ý định về kế hoạch sau đó". Buffett khi đó đã nói: "Bơm thêm vốn cho các ngân hàng có thể còn ý nghĩa hơn là mua tài sản của họ".
Ngày 13/10, CEO các ngân hàng lớn, trong đó có John Mack của Morgan Stanley, Jamie Dimon của J.P. Morgan, Lloyd Blankfein của Goldman Sachs, John Thain của Merrill Lynch, và Vikram Pandit của Citigroup, đã nhóm họp tại Bộ Tài chính Mỹ để thảo luận về đề xuất này.
Không phải tất cả các ngân hàng khi đó đều cần trợ giúp. Một số CEO ban đầu còn lưỡng lự có nên nhận tiền mặt hay không, do lo ngại nó có thể làm họ bị hiểu nhầm là đang gặp rắc rối, khiến nhà đầu tư rút tiền ra. Tuy nhiên, Paulson đã thuyết phục họ rằng việc cứu trợ này rất cần thiết, nhằm hồi sinh niềm tin vào nền kinh tế. Cuối cùng, tất cả đã đồng ý.
Sau cuộc gặp này, Bộ Tài chính Mỹ đã bơm 250 tỷ USD vào hệ thống ngân hàng. Dĩ nhiên, không phải ai cũng ủng hộ kế hoạch này. Rất nhiều người đã xuống đường biểu tình, phản đối việc dùng tiền thuế của người dân để cứu các nhà đầu tư giàu có ở Wall Street. Họ cho rằng đó  là những người có quyết định tài chính sai lầm, châm ngòi cho cuộc khủng hoảng.
"Tôi nghĩ là giờ vẫn còn rất nhiều người cho rằng việc chúng tôi cứu trợ các công ty ở Wall Street là vì muốn giúp những người đồng nghiệp trong ngành tài chính, chứ không phải để bảo vệ kinh tế Mỹ", cựu Chủ tịch Cục Dự trữ liên bang Mỹ (Fed) - Ben Bernanke cho biết.
Paulson, Bernanke và Chủ tịch Fed New York - Timothy Geithner đến nay vẫn bảo vệ quan điểm cứu nền kinh tế thông qua hệ thống ngân hàng. Dù vậy, cả ba cũng thừa nhận họ chưa thực hiện công việc một cách hoàn hảo, vì đã khiến Lehman Brothers sụp đổ.
Thị trường Mỹ đã dần hồi phục từ năm 2009. Paulson gọi gói cứu trợ này là "chương trình thành công nhất lịch sử nhân loại trong việc khiến người ta ghét bỏ". Cựu tổng thống Mỹ - George W. Bush thì gọi đây có lẽ là "chương trình cứu trợ tài chính tuyệt vời nhất" vì ông cho rằng "sự can thiệp này đã giúp thế giới tránh khỏi một cuộc suy thoái nữa".
Hà Thu (theo CNBC)